Showing posts with label Các vấn đề văn hoá. Show all posts
Showing posts with label Các vấn đề văn hoá. Show all posts

Wednesday, November 28, 2012

Tìm hiểu thêm về Kiểng cổ Nam bộ


Kiểng cổ hay cây cảnh tạo hình lối cổ là một loại hình nghệ thuật có từ ngàn xưa. Ở Việt Nam, nó đã được phổ biến thành một dạng nghệ thuật dân gian. Tùy theo theo niệm thẩm mỹ cảu từng dân tộc, từng khu vực mà cây kiểng cổ có nhiều kiểu khác nhau.

Nói đến kiểng xưa, ta nhận thấy kiểu hình của nó rất đa dạng và phong phú. Tuy nhiên, cây kiểng cổ được uốn sửa theo lối chiết chi nghị diện, tàm tùng tứ đức hoặc Tam cương ngũ thường là một dạng thức đặc biệt, rất đặc trưng cho khu vực Nam bộ. Đây là một kiểu thức đại diện cho cây kiểng xưa ở miền Nam mà không nơi nào có.

1. Nguồn gốc của kiểng cổ

Về nguồn gốc, có thể nói từ khi Chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh, người có công khai phá vùng đất phía Nam và đã đưa những lưu dân vào lập ấp, xây dựng cuộc sống mới. Trong dòng người lưu dân này (Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quy Nhơn…) rất đa dạng về thành phần, còn một số người có điều kiện hơn nhưng họ chán ghét cuộc sống làm quan, thêm vào đó là chiến chanh liên miên giữa Chúa Nguyễn và Chúa Trịnh làm cho dân chúng ngày càng cơ cực. Cho nên họ là ngững con người có thể do được chiêu mộ, bị lưu đầy hay tự động bỏ xứ mà vào phương Nam mưu cầu một cuộc sống mới. Chính điều này ảnh hưởng rất lớn đến tinh thần, tư tưởng của họ trong quá trình xay dựng, phát triển cuộc sống trên vùng đất mới cũng có thể nói rằng tư tưởng của họ vẫn còn hoài niệm về cố hương, họ vẫn không quên nguồn gốc của mình, không quên đạo làm người, dù có bỏ xứ mà đi. Điều này thể hiện rất rõ trong phong cách, lối uốn sửa tạo dáng cây kiểng xưa mà chúng ta đang xem xét.

Theo thời gian, những người ở đất phương nam, dần dà xây dựng được sự nghiệp. CÙng với sự phát triển về kinh tế, sự phân chia trong xã hội đã xuất hiện, một số điền chủ có tài sản ngày càng nhiều, ngay cả người nghèo cũng có một cuộc sống khác hơn thời cha ông còn ở bổn quán. Một cuộc sống mới đã xuất hiện trên vùng đất mới, , tuy còn hoang sơ nhưng nhàn, điều kiện sống tốt, việc trồng cây kiểng hưởng nhàn dần dà định hình trong xã hội. Có lẽ vì tưởng nhớ công ơn ông Nguyễn Hữu Cảnh, sợ phạm úy, mà người dân phương nam đọc trại từ “Cây cảnh” thành ra “Cây kiểng”.

2. Đặc điểm của cây kiểng Nam bộ

Do ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng Lão giáo, con người muốn gần lại với thiên nhiên hơn và do ảnh hưởng của Nho giáo nên những bậc tiền nhân xưa dù xa quê cha, đất tổ vẫn không quên được nguồn cội và đạo làm người, cho nên trong quá trình tạo tác cây kiểng, họ muốn gửi gắm tinh thần, tâm ý của mình vào từng chậu cây, từng tán lá, nhằm mục đích sửa mình và giáo dưỡng con cháu. Cây được sửa có ngọn quy căn, hòi đầu (thể hiện sự không quên nguồn cội). Kiểu “Tam cương ngũ thường” hay “Tam tòng tứ đức” thể hiện đạo làm người của nam và nữ thật rõ ràng. Như vậy tư tưởng, triết lý sống của người xưa được hình tượng hóa rất rõ nét qua dáng thế của cây kiểng cổ.
Tên gọi kiểng cổ chỉ mới xuất hiện ở vài thập niên sau này, từ khi loại hình bonsai của Nhật Bản lan rộng vào miền Nam. Trước kia người ta chỉ gọi là cổ mộc, cây kiểng. Đến bây giờ khi nghe từ “kiểng cổ” đại đa số người chơi cây đều liên tưởng đến kiểu thức kiểng chiết chi nhị diện và nó gần như là một định danh cụ thể cho loại hình kiểng này.
Cây kiểng cổ là cây được uốn sửa một cách công phu, đúng số tán, đúng nhánh, không thừa, không thiếu, mỗi thành phần trong cây đều có một giá trị nhất định, tiềm ẩn một triết lý sống cụ thể.
Cây kiểng lấy số 3, 5 làm căn bản do xuất phát từ nguyên lý âm dương, ngũ hành… thường sử dụng số lẻ, ít khi sử dụng số chẵn, ngoại trừ một số thế cây thể hiện các điển tích. Bộ kiểng cổ ban đầu thường là bộ 5 cây gọi là “ngũ phúc” được xếp theo hình chữ “Ngũ”. Bộ 3 cây gọi là bộ “Tam tài” xếp thẳng hàng, cây trung bình được xếp ở giữa. Về sau này vì những lí do rất khác nhau, kiểng cổ chỉ còn được thưởng ngoạn ở một cặp đôi đối xứng nhau.
Cây trung bình ở giữa bộ cây kiểng là cây chủ, thường có tầm vóc cao hơn, cành nhánh được uốn chiết chi theo kiểu âm- dương và thường được sửa theo dáng “thất hiền” hay “ngũ phúc”.
Các cây hai bên thường thấp hơn, thân được uốn hơi cong theo dáng xuy phong, tùy theo dáng cơ bản và tính chất của cây mà nó được uốn sửa theo dáng mẫu tử hay phụ tử.

3. Phân loại cây kiểng cổ Nam bộ

a/ Xét về mặt tính chất
Cây đại diện cho phái nam là cây xuy phong dáng phụ - tử. HÌnh dáng câu “cha” mạnh mẽ, gân guốc, cành nhánh được uốn sửa thiên về dương tính, phóng khoáng, nét mạnh (kiểu tán võ). Cây thường được sửa theo dáng “Tam cương ngũ thường” tiêu biểu cho đạo làm người của phái nam trong thời kỳ đó. Tâm cương là: quân thần cương (đạo vua tôi), phu thê cương (đạo vợ chồng), phụ tử cương (đạo cha con). Ngũ thường là năm đức tính cảu người nam nhân là : nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Nhing chung đó là giềng mối, phẩm chất của đạo làm người, của người quân tử trong xã hội thời đó.
Cây đại diện cho phái nữ là cây xuy phong mẫu tử. Hình dáng cây thường mềm mại uyển chuyển. Cành nhánh cây được uốn sửa cách ẻo lả hơn, thiên về âm tính (kiểu tán văn), cành có thể uốn tréo qua thân (tréo chữ nữ) biểu hiện cho nữ tính, cho nên thông thường những loại cây có hoa, có hương thơm thường được sử dụng cho loại hình này. Cây kiểng được sửa theo ý này là cây “Tam tòng tứ đức”. Tam tòng: Tại gia tòng phụ, Xuất giá tòng phu, Phu tử tòng tử. Tứ đức là bốn đức tính của người phụ nữ: Công – dung – ngôn – hạnh.
Việc uốn sửa cây kiểng cổ tuân thủ một cách nghiêm ngặt các quy tắc âm – dương.
b/ Xét về hình thái (hình dáng):
Cấu trúc thân cành ở cây xuy phong Tam cương ngũ thường ta thấy: Phần gốc thân được trồng và sửa nghiên khoảng 45 đọ so với mặt đất, phần thân dưới được uốn cong hướng vào trực chính tâm, phần thân còn lại đến ngọn được uốn lượn nhẹ, cuối cùng ngọn cũng đi vào trục chính tâm của gốc (quy căn) biểu đạt một điều: dù có đi xa, phát triển đến đâu cũng không hề quên nguồn cội. Cây tử xuất phát từ gốc cha hợp thành một góc 90 độ. Chiều cao thân cây tử không vượt quá tán thứ 2 của cây chính và được uốn hơi cong theo chiều ngược lại với cây cha.
Cây cha có cấu trúc 5 tán: gốc xiên về bên phải thì tán thứ nhất được uốn về bên phải. Đoạn thân thứ hai uốn cong nhẹ vào trong, tán thứ hai được uốn về phía trái tuân thủ nguyên tắc âm – dương. Đoạn thứ ba được uốn cong vào chính trục tâm cảu gốc, tán thứ 3 được uốn về phía bên phải theo lối chiết chi. Đoạn thân thứ tư được uốn về phía bên trái. Đoạn thân thứ 5 được uốn về chính tâm gốc (quy căn)
Cây tử có cấu trúc 3 tàn: Tàn thứ nhata được uốn về phía bên trái, tạo nét cân bằng với cây cha. Tàn thứ hai được uốn về phía bên phải theo lối chiết chi, tàn thứ 3 là ngọn chỉ cao bằng hoặc thấp hơn tán thứ 2 của cây chính.
Cành ở kiểng cổ được uốn sửa theo lối chiết chi nhị diện có âm, có dương, có văn có võ thật hài hòa. Cành được xếp đặt ở phần lồi của thân. Cành được uốn sửa theo kiểu vòi chạo cong lên, cong xuống thể hiện nguyên lý cực dương biến âm, cực âm biến dương.
Nếu đúng khoảng cách mà cành lại mọc ở vị trí ngược lại (cũng có thể theo ý muốn chủ quan) hoặc mọc ở phần lõm của thân, cành sẽ được uốn vòng qua thân chính theo hướng ngược lại. Việc uốn cành như vậy được xem là một nét đẹp của cây và cành này được gọi là cành uốn chữ nữ. Theo quan điểm riêng, thì đây là kiểu uốn tàn văn chứ không phải tàn võ, vì đó biểu đạt tính mềm dẻo, tính nhu, tính âm, thể hiện nữ tính.
Tán lá được cắt tỉa thành từng đĩa mỏng, hình trong, trái tin hay được tạo thành khối hình bán nguyệt mỏng. Các nhánh sơ cập, thứ cấp được cắt tỉa theo lối chiết chi để tạo ra một tàn cây đẹp.
Ngọn là phần cao nhất của cây, được tính là 1 tàn. Ngọn được cắt sửa thành khối hình bán nguyệt hay đĩa mỏng và nó được sửa theo các kiểu sau:
- Kiểu tàn võ (dương): tàn ngọn mọc thẳng, được cắt sửa thành đĩa hay khối không cho vươn cao nữa.
- Kiểu tàn văn (âm): Tàn ngọn được uốn cong xuống hướng về phía gốc (ý hồi đầu) rất khiêm tốn, nhã nhặn.
- Kiểu tàn văn võ (âm - dương): ngọn được chia ra hai bên tạo thành hai khối quân bằng thể hiện sự cân bằng âm – dương, biểu đạt sự trung dung ở đời.
Cách uốn sửa tàn ngọn phụ thuộc vào dáng thế, tính chất của cây cảnh cho phù hợp. Cây có gốc to, dáng thế mạnh biểu thị nam tính mạnh, được uốn sửa ngọn theo kiểu tàn võ, cây có dáng mềm mại uyển chuyển ngọn được sửa theo kiểu tàn văn rất hợp lý.
Về chiều cao của cây kiểng cổ, thông thường là 1,6m, vì nó là dạng kiểng dùng để trang trí trước sân nhà, cho nên tầm vóc được sửa cho cân đối hài hòa với nhà và cũng là ngang tầm quan sát của người thưởng ngoạn. Tuy nhiên đây cũng là con số tương đối, tham khảo, chứ không mang tính chuẩn mực như một số tài liệu đã đưa ra. Vì một cây kiểng cổ có giá trị, thể hiện ở tính chất mà nó mang, chứ không phải do khuôn khổ quy định về thước tấc. Chiều cao của cây phụ thuộc vào độ lớn cảu thân gốc một cách hài hòa và cũng một phần do ý muốn chủ quan của việc trang trí.
Về mặt nguyên tắc, cây kiểng cổ chiết chi nhị diện, bộ cành được uốn sửa theo lối âm – dương nghĩa là một tàn bên này, một tàn bên kia. Tuy nhiên, trong thực tế quan sát được ở một số cặp kiểng cổ ta thấy: hai tàn dưới thấp của cây chỉnh lại được uốn về một bên, tàn thứ ba mới được uốn về phía dối diện. Ở đây có lẽ nhằm mục đích tạo ra một bố cục cân bằng trong tác phẩm, tác phẩm sẽ không bị nặng nề về phía cây tử chăng? Và cũng có thể tàn thứ hai của cây chính sẽ không gần mà che khuất tàn ngọn của cây tử tạo nên nét thông thoáng cho tác phẩm.
Nhân việc bàn về cây kiểng cổ, chúng tôi xin được nhắc lại câu: “Vô nữ bất thành mai, vô thập bất thành tùng”. Câu này hàm ý chí tính chất của cây được uốn sửa một cách mềm mại, yểu điệu, thể hiện được nữ tính ở cây mai. Còn ở cây tùng được uốn sửa một cách dứt khoát, mạnh mẽ, cương trực, cành nhánh không được uốn sửa yểu điệu, khí phách như người quân tử, biểu hiện cho nam tính.
Như vậy cây mai đại diện cho phái nữ, do đó nó được uốn sửa làm sao cho bộc lộ được nét mềm mại, nữ tính là biểu hiện được tính chất của cây. Nếu có cành bắt chéo chữ nữ thì càng đẹp, nhưng trên cây chỉ nên có 1 cành bắt chéo chữ nữ để biểu hiện tính chất là đủ, chứ không phải bắt nhiều cành chéo lên cây mai mới thể hiện được điều này, vì nếu cành bắt chéo nhiều trên cây sẽ có một ý nghĩa khác không tốt, không hay. Theo quan điểm riêng, ngay trên một cặp kiểng cổ cũng chỉ nên uốn chữ nữ ở một cây mà thôi. Nếu cả hai cây cùng có cành chéo nữ, thì ý nghĩa của nó cũng không tốt, có thể được hiểu theo hướng khác cách lệch lạc.
Như vậy sửa lối chiết chi nhị diện ở cây kiểng cổ đặc trưng cho miền nam, thể hiện rất rõ tâm ý cảu người tạo ra nó. Qua việc thưởng ngoạn cây, người xem còn thấy rõ được triết lý sống, hiểu rõ cương thường đạo lý giữa con người và xã hội, để từ đó xác lập được giềng mối quan hệ gia đình và xã hội, tự tu tâm dưỡng tính, giáo dưỡng tinh thần. Nó không những là một môn nghệ thuật mà còn là một triết lý đạo đức đưa con người đến chân thiện mỹ thời đó.
Xuất phát điểm của nghệ thuật kiểng cổ chính là thú chơi tao nhã vào thời gian nhàn rỗi của con người. Song trong giai đoạn hình thành và phát triển nghệ thuật kiểng cổ đã vượt lên nhu cầu tiêu khiển, giải trí của con người trở thành loại hình văn hóa dân gian, phản ánh nhận thức thẩm mỹ và nhân sinh quan con người đương thời. Thông qua cách chọn giống cây cảnh để tạo tác và đặt tên cho những dáng thế khác nhau, các nghệ nhân đã làm cho gốc kiểng vô tri trở thành những tạo vật có tính biểu tượng, tính triết lý và giáo dục sâu sắc.
TheoViệt Nam hương sắc

Monday, August 20, 2012

'Cần di chuyển hết cây xà cừ ra khỏi thành phố'


“Việc trồng cây xanh trong thành phố Hà Nội đang mắc sai lầm nghiêm trọng khi lựa chọn giống cây”, GS. Nguyễn Lân Hùng chia sẻ trước thực trạng cây đổ chết người trong mùa mưa bão.

Tình trạng cây đổ sau mỗi trận mưa, bão đã diễn ra trong một thời gian dài. Tuy nhiên, chỉ sau sự việc một cây xà cừ cổ thụ trên phố Lò Đúc bất ngờ đổ chiều 17/8 đã đè bẹp chiếc taxi của hãng Mai Linh và làm tài xế tử vong tại chỗ mới khiến nhiều người dân cũng như cơ quan chức năng bàng hoàng.
Tiếp đó, sáng 18/8, một cây phượng lâu năm bật gốc đè sập một mái nhà. Cũng theo thống kê của Công ty TNHH Nhà nước một thành viên Công viên Cây xanh, Hà Nội có trên 200.000 cây xanh, thuộc 150 loài, đa số được trồng 30-40 năm trước đã bộc lộ nhiều nhược điểm. Điển hình như xà cừ, hiện chiếm 28% (khoảng 56.000 cây) có bộ rễ chùm tốn đất, không đủ sự vững chắc. Vào mùa mưa bão, xà cừ rất dễ bị đổ. Vừa qua, sau mưa bão, địa bàn Hà Nội đã có khoảng 100 cây xanh bị gãy đổ do trận mưa trên, và phần lớn trong số này là các cây xà cừ cổ thụ.
Hàng loạt cây cổ thụ đổ ập trong bão số 5 vừa qua
Chính loại cây này đang là nỗi lo ngại của cả cơ quan chức năng và người dân. Không chỉ dễ đổ vì bộ rễ chùm, rễ của loại cây này còn thường xuyên mọc trồi lên mặt đất, làm cong, nứt mặt hè phố. Thực tế, khoảng vài năm trở lại đây, hầu như mỗi trận mưa lớn, trên đường phố của Thủ đô lại có cây cổ thụ bị đổ, hầu hết làcây xà cừ. Câu hỏi được dư luận quan tâm là tại sao cây xà cừ lại dễ đổ hơn những cây khác và nên chăng, cần có nghiên cứu mang tính khoa học, nghiêm túc về vấn đề này. Cần thiết, có thể trồng thay thế những cây xà cừ bị đổ bằng những loại cây khác có bộ rễ chắc chắn, bám sâu hơn vào đất.
Trao đổi về vấn đề này, GS.TS Nguyễn Lân Hùng, Tổng thư kí Hội các ngành sinh học Việt Nam cho rằng: "Việc trồng cây xanh trong thành phố Hà Nội đang mắc sai lầm nghiêm trọng khi lựa chọn giống cây. Hiện nay, phần lớn trong thành phố trồng cây xà cừ, đây là một loại cây có rễ chùm rất dễ đổ khi có gió to, bão lớn".
GS. Nguyễn Lân Hùng cho rằng cần di chuyển hết cây xà cừ ra khỏi thành phố
GS Nguyễn Lân Hùng đưa ra ý kiến rằng, cần phải đưa cây xà cừ ra ngoài thành phố để tránh gây nguy hiểm. Bên cạnh đó, cần thay thế bằng việc trồng cây sấu. Bởi vì cây sấu rễ cọc, xanh quanh năm. Ngay cả những cây như bàng, phượng đều rụng lá vào mùa đông, thân giòn nhưng riêng cây sấu có thân cứng, rễ cọc và chịu được những luồng gió lớn.
Đơn cử như tuyến phố Phan Đình Phùng, có rất nhiều cây sấu nhưng chưa bao giờ bị đổ. “Việc trồng cây trong thành phố phải có chọn lọc cho phù hợp và an toàn. Nên chọn những cây rễ cọc, lá cây xanh, thân cứng như cây sấu để trồng trong thành phố. Còn những loại cây rễ chùm như cây xà cừ rất dễ đổ sập và gây độn hè, độn đường thì cần thay thế”, GS Hùng chia sẻ.
Mặt khác, về phía Công ty TNHH Công viên Cây xanh Hà Nội, ông Nguyễn Xuân Hưng, Phó tổng giám đốc Công ty công viên cây xanh Hà Nội, thừa nhận: "Do mưa bão lớn nhiều ngày, cộng với gió xoáy mạnh trong cơn bão chiều 17/8 khiến hàng loạt cây lớn trên đường phố bị đổ. Phần lớn cây đổ là xà cừ, muồng, nguyên nhân do những loại cây có rễ chùm không chống chịu được mưa bão lớn, kéo dài".
Giám đốc Công ty TNHH Công viên Cây xanh Hà Nội lo ngại việc di chuyển sẽ gặp nhiều khó khăn và trồng mới cây xanh
Lãnh đạo công ty này cũng cho biết còn nhiều khó khăn, bất cập trong việc trồng mới và di chuyển cây xanh trong TP Hà Nội. Hiện nay, hàng trăm cây xà cừ cổ thụ có kích thước rất lớn, khó di chuyển và đòi hỏi chi phí lớn nếu muốn chặt hạ. Riêng việc có nên thay thế bằng việc trồng cây sấu hay không, công ty sẽ xem xét và xin ý kiến tư vấn từ các cơ quan chức năng liên quan.
PHƯƠNG TUÂN – LÊ TÚ
Theo Infonet.vn

Monday, July 9, 2012

Cổ Mai Hoa ở Đại Lộc


Bài đăng trên An ninh Thế giới, số Xuân Kỷ Sửu - 2009 (Ảnh chụp lại tập báo, của tác giả)
Bài đăng trên An ninh Thế giới, số Xuân Kỷ Sửu - 2009
(Ảnh do tác giả bài viết chụp lại tập báo)
  

Ngày nay, khi  áp lực của lối sống công nghiệp ngày càng chi phối nghiệt ngã đời sống xã hội thì người ta lại hướng về những thú vui tao nhã một thời vang bóng để hoá giải và tạo thế cân bằng. Đó là các bộ môn nghệ thuật của sự đam mê và lòng nhẫn nại, như non bộ, tiểu cảnh, thư pháp, bonsai v.v... Trong các đối tượng của nghệ thuật cây cảnh, cây mai cổ tự lúc nào đã nghiễm nhiên trở thành linh vật đối với người Việt Nam xưa và nay.
Điều ít ai biết, ở Đại Lộc, Quảng Nam nghệ thuật Cổ Mai Hoa đến nay phát triển gần như đã là “đạo”...


Mai Hoa biểu tượng của mùa Xuân, quy luật đất trời, đạo đức và khí tiết người Anh hùng...
Cây hoa mai vàng (dưới đây gọi là mai hoa) có tên khoa học là Ochna integerrima, là loài cây hoa cảnh gắn liền với Tết – Xuân, tự bao đời đã trở nên vừa thân thuộc, vừa thiêng liêng với mọi tầng lớp người dân Việt. Từ cổ chí kim, ở Việt Nam, mai hoa, nhất là cây mai cổ thụ nhiều tuổi, từ dáng thế, màu sắc và cả các đặc tính sinh học của nó được cho là chứa đựng nhiều bí ẩn, biểu hiện những ý nghĩa triết lý nhân sinh sâu sắc.
Lịch sử dân tộc ta từng ghi nhận rất nhiều bậc anh hùng, tiền bối đã không tiếc lời ca ngợi, tôn thờ những giá trị thâm hậu mà cây hoa mai mang lại. Đại thi hào Nguyễn Du (1765-1820) xem mai hoa như một biểu tượng của đạo đức và khí tiết: “Mai cốt cách, tuyết tinh thần” (Truyện Kiều); là bạn tri âm, tri kỹ “Mai là bạn cũ, Hạc là người
quen”
 (bài đã dẫn).

Còn Mãn Giác Thiền sư (1052-1096), trong một bài kệ, tương truyền được viết ngay trước khi Sư viên tịch tại chùa Sùng Nghiêm, năm 1096:
“... Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.”  
(Cáo tật thị chúng)
Tạm dịch: Chớ tưởng xuân tàn hoa rụng hết. Đêm qua sân trước một nhành mai. Ở đây sức sống mãnh liệt của hoa mai được đẩy lên đến độ cao trào. Ta hãy hình dung chỉ sau một đêm xuân, trước thềm bỗng xuất hiện - không chỉ một, vài bông hoa - mà là một nhành mai nhất loạt vàng bông rực rỡ, như một sự thăng hoa tuyệt diệu, sự chuyển hoá biến đổi của đất trời.
Tuy nhiên, trong những áng văn, thơ viết về mai hoa do người xưa để lại, nỗi tiếng hơn cả phải là bài thơ bất hủ của Chu Thần - Cao Bá Quát (1809-1855). Bài thơ vốn đã là “slogan”, là “tuyên ngôn nghệ thuật” của không ít nghệ nhân mai cổ thời nay. Xin được trích dẫn nguyên văn:

經世有才皆百鍊
 讀書無字不千金 
十載論交求古劍 
一生低首拜梅花

Phiên âm Hán - Việt:
Kinh thế hữu tài giai bách luyện
Độc thư vô tự bất thiên kim
Thập tải luân giao cầu Cổ Kiếm
Nhất sinh đê thủ bái Mai Hoa  
(Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Wikipedia)
Thập tải luân giao cầu Cổ kiếm. Nhất sinh đê thủ bái Mai hoa” - Người anh hùng có mười năm giao du trong thiên hạ để cầu thanh gươm cổ cùng một đời chỉ biết cúi lạy hoa mai! Ta sẽ thấm thía hơn cái triết lý nhân sinh sâu sắc chuyển tải trong hai câu thơ nỗi tiếng của Cao Bá Quát nếu như ta đặt nó trong ngữ cảnh của cuộc đời kỳ lạ của ông, cuộc đời của một người Anh hùng không hề biết nễ sợ một ai, trong một giai đoạn lịch sử rất đặc biệt của các thời đại cuối cùng  nhà Nguyễn. Khi không còn tin vào Triều thần, Người Anh hùng  trong ông có mười năm đi “cầu cổ kiếm”, như kiếm tìm một kế sách để cứu dân, cứu nước. Và ông đã tự đặt mười năm đó vào thế cảnh của một đời chỉ biết “bái mai hoa”! …
Thế mới biết Mai Hoa không chỉ là biểu hiện của mùa xuân, quy luật đất trời, đạo đức, mà còn là biểu tượng cho khí tiết bất diệt của người Anh hùng.

Cổ Mai Hoa ở Đại Lộc...
Trong những năm trước, khi đất nước chuyển mình Đổi Mới, người dân Đại Lộc vốn nghèo trên vùng đất bị chiến tranh tàn phá ác liệt đã phải tìm kiếm cho mình những cách làm ăn mới. Từng nỗi lên rất nhiều tấm gương vượt khó, nhiều nông dân sản xuất giỏi... Trong đó, cây hoa mai từng là đối tượng sản xuất, kinh doanh mang lại hiệu quả cao mà cách đây vài năm trên báo Thanh niên từng có bài phóng sự khá hay (Kỳ nhân ở động mai vàng, tác giả Hứa Xuyên Huỳnh, Báo Thanh niên 2/2005). Tuy nhiên, không dừng lại tại đó, từ một loại cây để “xoá đói giảm nghèo”, “nuôi con ăn học” đến nay mai hoa đã trở thành “bái vật” của một thú chơi đầy công phu đang cuốn hút sự quan tâm của rất nhiều người: Thú sưu tầm và chơi cây mai cổ!  Trong mắt của giới sinh vật cảnh, vùng quê Đại Lộc lại được biết đến như một trong những vùng đất sản sinh ra “bộ môn nghệ thuật” này.
Theo số liệu chưa đầy đủ, hiện nay có đến hàng mấy mươi người ở Đại Lộc chuyên tâm sưu tầm và chơi cây mai cổ, trong số đó không ít người đạt đến trình độ thượng thừa. Không chỉ nắm vững các kỹ thuật, nghệ thuật chăm sóc, tạo dáng, chế tác... cho cây mà qua thú chơi đó, họ còn tạo nên những sức cuốn hút kỳ lạ, làm thổi bùng ngọn lữa đam mê và tình yêu Cổ Mai Hoa trong rất nhiều người. Có người không kể gì đến nợ cơm - áo - gạo - tiền mà thẳng thừng tuyên bố:
“Giàu sang phú quý không màng
Chỉ yêu son sắc một nàng Mai Hoa!...”
Trong số những người đam mê cây mai cổ ở Đại Lộc phải kể đến một vài nhân vật có tên tuổi. Anh Lê Me (Khu 5, Ái Nghĩa) là người đã từng đeo đuổi rất sớm cây hoa mai, từng khai phá hàng chục héc ta đất núi đồi ở vùng giáp ranh Hải Vân để làm trang trại hoa mai, nhưng tiếc thay, do nhiều trắc trở, mộng không thành. Sau đó anh quyết chí làm lại, chuyển sang sưu tầm cây mai cổ. Đến nay, sau quá trình gầy dựng, trong vườn anh đã có đến gần năm mươi cây mai cổ được chăm sóc cẩn thận và thật sự là những tác phẩm có giá trị. Đó là chưa kể mấy trăm chậu mai mi ni để bàn, mai vừa để chơi và bán tết. Anh Nguyễn Chín (Mỹ Liên, Đại Nghĩa) sau mấy năm tích cóp, sưu tầm hiện nay có trong “tay” đến gần trăm gốc; Anh P.Thông (Đại Hiệp) khoảng bảy mươi gốc. Táo bạo hơn, Anh L.P.Th ở Trung An, chỉ sau vài tháng chuyển đổi từ các loại cây cảnh khác sang cây hoa mai, đã tích cóp cã cũ lẫn mới tổng cộng có đến gần trăm cây, mà cây nào cũng quý. Còn danh sách các “sở hữu chủ” ở cấp vài chục cây thì có đến vài mươi người ở khắp nơi trong huyện.
Tuy nhiên, sẽ rất thiếu sót nếu như không nói đến một số người kém may mắn hơn khi không giữ được cho mình một cây nào đáng giá, nhưng nỗi đam mê và cả “tay nghề” của họ thì không hề thua kém bất cứ một ai (ông C. Ph ở Đại Nghĩa, anh B.Đ.B ở khu 8; anh Ng.Q ở Nghĩa Nam, Ái Nghĩa...). Họ là những người yêu và theo đuổi nghệ thuật cổ mai hoa từ rất sớm, đã từng “qua tay” họ đến vài trăm cây, nhưng khốn nỗi cái nghèo đã không giúp họ giữ lại được cho mình những tác phẩm quý giá, máu thịt đó.
Như vậy bằng một con tính đơn giản, ít nhất ở Đại Lộc hiện nay số cây mai cổ đang hiện diện là không dưới năm trăm cây, mà mỗi cây đều là một kỳ tích, thể hiện tất cả những niềm đam mê, tâm huyết mà chủ nhân của nó đã bỏ mồ hôi, lắm khi cả nước mắt để có được nó. Nói không ngoa, trừ những ngày bão lũ, bất cứ thời điểm nào cũng có một vài người Đại Lộc lặn lội khắp hang cùng ngõ hẽm, trên rừng, dưới xuôi, cả trong và ngoài tỉnh truy tìm cây hoa mai cổ thụ để rồi tạo nên một sự dịch chuyển âm thầm nhưng đầy ngoạn mục: Cây mai cổ từ khắp nơi dần dần được đưa về Đại Lộc,  hợp thành cái nghĩa tương phùng Cổ - Mai - Hoa - Đại - Lộc!
Những lúc cơm cao gạo kém, nghệ nhân của Cổ Mai Hoa ở Đại Lộc đã phải lăn lộn với rất nhiều nghề, không ngại bất cứ công việc gì, miễn là lương thiện để vừa có thể làm tròn nghĩa vụ ở đời, vừa có thể nuôi thú chơi cây. Cay đắng hơn, còn có người chấp nhận và chịu đựng cả những nỗi oan khiên, điều tiếng để không phải từ giả thú chơi. Hơn ai hết, họ hiểu cái giá mà họ phải trả. Hãy nghe một người trong số họ viết:
“Tôi vẫn biết yêu cây là đau khổ
Khi con thơ réo gọi bố xin tiền
Mai ngoài vườn bọ trĩ hút đảo điên
Mà trong ví chẳng còn xu dính túi…”
(Tự tình với cây)
Tình trạng “chẳng còn xu dính túi” đó đối với người yêu cây, chơi cây là chuyện thường tình nhưng dù vậy, hễ cứ nghe tin ở đâu đó có cây mai cổ thụ đẹp là họ sẵn sàng gát lại hết mọi công việc, lập tức lên đường, để nếu như không đủ cơ duyên được làm chủ sở hữu thì ít nhất cũng được cái vinh dự một lần mục sở thị được cây mai quý!. Tôi còn nhớ, cách đây không lâu, trong giới chơi cây ở Đại Lộc rỉ tai nhau một tin vào hàng rất “giật gân” là “ở một nơi nào đó mà không biết nơi nào (?) đang có một cây mai cổ rất lớn”. Theo lời đồn, cây mai này lớn đến nỗi cái bộng ở gốc cây được trẻ con... chui vào để chơi trò trốn kiếm rồi ngũ quên trong đó, không ai tìm ra chúng (?). Câu chuyện kỳ lạ, khó tin đó chỉ có thể làm mê hoặc được những kẻ chuyên truy tìm Cổ Mai Hoa, vì chỉ họ, những người vốn được cho là có “tâm thái bất thường” mới có thể tin nỗi. Không ai bảo ai, rất nhiều người bí mật đi tìm, như kiếm tìm một cơ may kiểu “ngậm ngãi tìm trầm” vậy. Cũng như họ, lần đó, tôi cũng bí mật cùng vài anh em lên đường đi tìm cây mà thông tin có được chỉ vỏn vẹn là mỗi cái tên của ông chủ, không một dòng địa chỉ (đó là ông LNT.)!

Chuyển mai về Đại Lộc… Ảnh: LT


Một buổi chiều, sau một hành trình rất đỗi gian nan, cuối cùng điều may mắn cũng đã đến khi chúng tôi tìm được đúng người có tên như mình muốn, không đâu xa, ở ngay trên đất ... Đại Lộc. Đó là một người đàn ông khoảng ngoài sáu mươi, thần sắc hồng hào. Khi được xác nhận đúng tên ông, sau vài câu xã giao, chúng tôi hỏi: “Nghe người ta nói bác có cây mai cổ lớn lắm?”, Ông bình thản xác nhận là “Ừ! có. Nhưng mà răng?”.Quanh co một hồi, ông dẫn chúng tôi ra vườn, chỉ vào một khoảng trống, ông bảo: “Đây nó đây!”. Nhưng chúng tôi chẳng thấy gì cả! Trong lúc chúng tôi còn ngơ ngác không hiểu gì thì ông gằn lại với bộ mặt rất bí hiểm: “Thì đây, chứ còn đâu nữa!”. Sau phút định thần chúng tôi thấy đó chỉ là ... một hố đất rất sâu và đã cũ (?).
Thì ra, cây mai huyền thoại đó từng tồn tại nhưng nó đã chết từ lâu. Cái chết của cây gây nên cho ông một nỗi đau buồn vô cùng tận, đến nỗi ông đã cho người ta đào cả gốc rễ đem đi mất để chóng nguôi ngoai. Nhưng rồi vẫn không yên, nỗi nhớ cây đã khiến ông cố tình giữ lại cái hố đất sâu do cây để lại làm kỷ niệm... Theo lời ông, thời gian gần đây không biết lý do gì mà rất nhiều người lạ đến hỏi ông về cây mai cổ đó...
Và còn rất nhiều câu chuyện ly kỳ, bao hàm đủ cả hỉ - nộ - ái - ố, lắm khi đầy nước mắtvề cây, về người mà trong giới Cổ Mai Hoa Đại Lộc gặp nhau có tán mãi cũng không bao giờ hết...Nhưng rồi “trời cũng phải có mắt”, công sức bỏ ra đó đã được đến đáp. Nhiều cây mai rất quý được phát hiện và mang về Đại Lộc, khiến không ít người trong giới chơi cây phải ghen tỵ. Trong đó phải kể đến một vài cây có “số má” hẳn hoi cùng với những câu chuyện ly kỳ xung quanh nó. Như cây mai có tên “Hồn Việt” của anh Th. mang về từ Điện Bàn (năm 2006), có tuổi hơn trăm năm, dáng thế thanh thoát, là một trong những cây mai quý đang có ở Đại Lộc, từng được báo chí đưa tin (bài Mai vàng lên mạng, tác giả Thuận Nguyên, báo An ninh Thế giới số 724, ngày 16/01/2008). Cây “Ngọc cốt, Thiên chân” của anh Lê Me đem về từ Tam Dân, Phú Ninh  (2007), có kích thước to lớn chưa từng thấy, toát lên một cảm giác hùng vĩ đến rợn người. Cây “Hoàng Mai” của anh N.v.Tr. (Đại Hiệp) có nguồn gốc từ Quế Sơn (2008), xinh đẹp như tiên nữ cõi trần, hoành tráng như khổng lồ truyền thuyết. 
Nghe đâu, để mua được nó thành công, chủ nhân đã phải cất công bí mật “trinh sát”, “mai phục”, rồi “đánh” (thuyết phục chủ cây đồng ý bán) và đã “thắng” như một chiến công thật sự, khiến cho tất cả các anh em chơi mai ở Đại Lộc vừa sung sướng vừa ghen tỵ v.v...
“Mã tầm mã, ngưu tầm ngưu”, quý nhau chút tình, những người có đồng sở đắc sưu tầm và chơi cây mai cổ ở Đại Lộc đã tìm đến nhau, gắn kết để cùng chia xẻ những niềm vui, nỗi buồn và lòng đam mê mà nhiều khi nói ra người ngoài dễ cho là ... bị bệnh hoang tưởng hay tâm thần phân liệt (!). Họ đã tự xây dựng cho mình những website riêng để chia xẻ thông tin cả với giới sinh vật cảnh trên khắp mọi miền đất nước(http://webwarper.net/ww/~av/comaihoa.blogspot.com/ , Comaihoa.blogspot.com , www.quangcaosanpham.com/members/comaihoadailoc ,comaihoadailoc.blogtiengviet.net , blog.yahoo.com/comaihoa) .
Không chỉ quan tâm đến cây mai, các “môn đồ” của Cổ Mai Hoa ở Đại Lộc còn thể hiện nỗi đam mê của mình sang nhiều loại hình nghệ thuật khác. Họ sưu tầm cả các tác phẩm thuộc lĩnh vực thơ văn, hội hoạ, gốm sứ, đá cảnh v.v... có chủ đề liên quan đến mai hoa, qua đó một vài cá nhân cũng đã sở hữu được vài tác phẩm quý. Ấn tượng nhất là bộ đĩa sứ cổ lam thuộc đời Thanh, Trung quốc gồm ba chiếc (Hàn mai, Mai hạc, Mai nguyệt) do anh P.V. Bằng ở khu Mới, Ái Nghĩa sưu tầm được. Trong đó, đặc biệt hơn cả là chiếc đĩa Mai Hạc có in hình con chim hạc, cây mai cổ và hai câu thơ lục bát của Đại thi hào Nguyễn Du:
Ngêu ngao vui thú yên hà
Mai là bạn cũ, Hạc là người quen”.
Theo học giả Vương Hồng Sển (1902-1996), đây là hai câu thơ do Nguyễn Du sáng tác vào năm Quý Dậu - 1813 khi ông là Chánh Sứ sang Trung Quốc, đi thăm một xưởng sản xuất đồ sứ. Biết quan Chánh Sứ An Nam là Đại thi hào nỗi tiếng, tinh thông văn chữ, chủ xưởng đồ gốm sứ Trung Quốc đã xin thơ của ông để đề vào sản phẩm.
Thế là Nguyễn Du đã viết nên hai câu thơ nỗi tiếng này bằng chữ nôm và các nghệ nhân Trung Hoa đã chép lại lên sản phẩm. Do vậy, chiếc đĩa có một ý nghĩa rất lớn về lịch sử, văn hoá, đồng thời nó thật sự là một báu vật đối với các “môn đồ” của Cổ Mai Hoa.
(Theo “Hiếu cổ đặc san”, khảo về đồ cổ men lam Huế - Vương Hồng Sển – 1970, 1972 và “ Kỹ thuật trồng và ghép mai” - Huỳnh Văn Thới - NXB Trẻ -  1995).

Một vườn mai cố ở Đại Lộc

Triển vọng và những nỗi lòng về Cổ Mai Hoa ở Đại Lộc ...
Với tình yêu và lòng đam mê cháy bỏng của những nghệ nhân Cổ Mai Hoa ở Đại Lộc, chuyện về họ, về cây có lẽ khó có hồi kết. Và tất cả những gì thể hiện trên đây - là người mới thâm nhập một cách rất nghiệp dư vào nghệ thuật Cổ Mai Hoa - tác giả chỉ mong được chuyển tải một phần nhỏ về mặt tinh thần của nghệ thuật chơi cây mà thôi. Còn về giá trị và tiềm năng kinh tế mà cây hoa mai cổ có thể đem lại chưa phải là đối tượng khai thác trong phạm vi bài viết này, cho dù ở Đại Lộc từng có không ít những cây mai cổ được mua về với giá vài triệu mà chỉ sau vài nhát búa điệu nghệ, hoặc đôi lời bình sắc sảo của nghệ nhân thì lập tức đã có những “đại gia” từ Hội An, Đà Nẵng về ngã giá đến bốn, năm chục triệu. Đó là sự thật rất đáng lưu tâm.
Nhưng mộng ước của anh em chơi cây mai cổ ở Đại Lộc thì còn rất cao xa mà không quá xa vời. Nguyện vọng của họ là được tập hợp lại trong một tổ chức hội đoàn thể hay một cao lạc bộ về sinh vật cảnh để chí ít  thì họ cũng có được tiếng nói riêng của mình, vừa có thể đoàn kết, giúp đỡ nhau vượt qua tai ương, khốn khó, khi Cổ Mai Hoa chưa thể “hoá vàng” ở Đại Lộc. Họ bảo, cũng đi từ cái đơn giản, nhỏ bé, ít ỏi, nhưng sau quá trình xây dựng, những sản phẩm như “Đào Nhật tân”, “Vú sữa Lò rèn”, “Bưởi Năm roi”,... đã trở thành những thương hiệu nỗi tiếng! Vậy thì  “Cổ Mai Hoa Đại Lộc”, với những gì đang được bắt đầu một cách tuyệt diệu, thì tại sao không?...
Để kết thúc bài viết này xin được ghi lại hai câu thơ như một sự xẻ chia và cảm kích với những nỗi lòng đau đáu và sự đam mê đến cùng cực của những người đã trót dấn thân vào nghệ thuật Cổ Mai Hoa ở Đại Lộc:
“Ngày phải lo toan Tiền - Cơm - Áo,
Đêm thì mộng mị Cổ - Mai - Hoa...”
Đại Lộc, 10/2008.
Thanh Lê(Lê Thạnh - Comaihoa)

Monday, February 6, 2012

Mùa thu uống rượu cúc

Rượu Hương Mai Đại Lộc - Xuân Nhâm Thìn
Mùa thu uống rượu cúc 
Thần Anh

Giữa Mùa Nguyên tiêu, tình cờ tôi đọc được bài "mùa thu uống rượu cúc" trên một trang mạng. Ngỡ ngàng vì có những điểm rất giống mình ở cái cảm về rượu. Trước khi có bài chia xẻ về rượu Hương Mai,  xin giới thiệu với bạn đọc "Rượu Cúc" của tác giả Thần Anh.
(Lê Thạnh - Comaihoa)


Rủ nhau đi khắp Hà Nội, vào khắp các quán rượu dân tộc may ra tìm được hai quán có rượu cúc, quán Hoàng Hoa Tửu ở phố Khâm Thiên và quán Tứ Hải ở gần Hồ Tây. Rượu cúc có hai loại: loại hoàng cúc và loại bạch cúc. Thực ra nhà hàng toàn dùng cúc Tầu để ướp hương cúc rõ nhưng gắt, uống thành thử sốc, người hay rượu cũng chỉ một be là mặt đỏ lựng lên rồi. Bạch cúc hương không đượm bằng hoàng cúc, nhưng lên rượu hoàng cúc sắc lại hơn nên đắt hơn, chứ thực tình hai loại chẳng khác gì nhau cả. Nhưng viết ra vậy mới biết là ngay cả rượu cúc bây giờ cũng ngoại hoá đi nhiều.





Ướp rượu cúc bây giờ thì đơn giản, ra phố thuốc bắc mua hoa cúc của Tầu về, hoa cúc tầu là tối ưu nhất, vì hoa to cánh hoa đẹp, đượm hương mang về nhà ngâm vào trong bình rượu cồn hoặc rượu gạo nồng độ cao như ngâm thuốc bắc, ngâm độ một tuần là lọc hoa ra có thể đem ra uống được. Cúc ta hay gọi la cúc chi, hay kim cúc, không đượm hương được bằng nên chẳng ai dùng.
Như tôi đã cũng một lần ngâm cúc chi thì mới thấy khó khăn hơn nhiều, cách này là của một người bạn, nói bạn cũng là hơi xấc vì ông năm nay đã hơn bẩy mươi, tôi hai mươi nhưng vì chơi với nhau nên tôi gọi là bác. Hoa cúc bóp cho nát chỉ lấy những nhụy hoa đem sàng cho thật kỹ thì mới ngâm rượu, ngâm xong để bẩy bẩy bốn chín ngày cho rượu thấm hương cúc. Hoa cúc nước mình kém hương nên phải để lâu, trước khi uống, vợi ra hai nài một nài ngâm thêm ít cam thảo nam, uống ngọt ngọt, một nài thì để nguyên, màu rượu vàng sánh, uống một hụm không hề thấy gắt, tâm thật tĩnh thì mới thưởng được hết hương cúc trong chén. Uống rượu cúc không nên uống có đồ nhắm, cùng lắm là thêm vài lát xoài xanh hoặc dăm hột lạc. Ngồi trên một hiên nhà tranh trước mặt là một giàn mướp trông ra hồ Tây trong một chiều thu, hơi lất phất những cơn mưa ngày thất tịch, tưởng chừng không có gì khoái hoạt bằng.

Nâng chén rượu cúc trong tiết lập thu...
Ngẫm ra mới thấy buồn vì ngày nay cái văn hoá phương Tây ăn sâu vào đời sống của dân mình nhiều quá, ngay cả cách hưởng thụ thôi cũng thể hiện cả một thế giới quan của người Tây phương rồi. Uống rượu bổ, uống rượu nghĩ đến mình, uống rượu để hưởng thụ cuộc sống, uống rượu trần tục để gieo nghiệp vào mình, một chén rượu mất bẩy loại rắn, một chén rượu mất nguyên con gấu, một chén rượu phải mổ bụng khỉ đang có mang để lấy bào thai, một chén rượu phải lấy nguyên một tổ ong đất. 
Trong khi đó chén rượu cúc thì chẳng mấy ai hay, đạo thiền sinh ra từ chén rượu, uống rượu mà cảm được thiên nhiên, được trời đất, giao hòa lại như trong một nhất thể, uống rượu mà thấy thiên nhiên đẹp quý vô cùng, uống rượu mà nâng niu cuộc sống, trân trọng cuộc sống... a các cụ ta không dưng là làm nên bài Tứ thời để dạy cho con cháu cách chơi, hưởng thụ cuộc sống:
Xuân du phương thảo địa
Hạ thưởng lục hà trì
Thu ẩm hoàng hoa tửu
Đông ngâm bạch tuyết thi
Có nghĩa là: mùa xuân thì đi chơi ngắm hoa cỏ đất trời, mùa hạ thì thưởng sen trong hồ, mùa thu uống rượu cúc, mùa đông ngâm thơ ngắm tuyết trắng. Cách chơi với thiên nhiên đó, trân trọng thiên nhiên đó của các cụ mới xem như là “Chơi cho đài các cho người biết tay”.
Nói đến đây, chị bạn tôi lại phản biện rằng: Cái cảnh tứ thời ấy là ở Trung Quốc chứ đâu phải là của nước mình.
Đúng là cái lối nói mùa đông ngắm tuyết thì xứ nực như ta nào có được. Dẫu cho nền văn chương cử tử cũ cuả nước ta gò con người ta vào những cảnh ước lệ, tượng trưng của văn chương Tầu thì không có nghĩa là chúng ta không chơi được như Tầu.
Bên Tầu, trong dịp tết trùng cửu, tết mùng 9 tháng 9 âm lịch (chữ cửu cửu gần với âm chữ cúc cửu nên trong dịp này người ta hay uống rượu cúc chăng?). Vả lại tháng 9 cũng là tháng hoa cúc, người ta gọi là tháng cúc cửu, tháng này hoa nở rộ nên hoa cúc đôi khi còn được gọi là hoa cửu. Cũng theo một cách giải thích khác cho thú uống rượu hoa cúc là có ông Đào Tiềm – một nhà thơ ẩn dật nổi tiếng của Trung Quốc với bài ký Đào hoa nguyên nổi tiếng cũng đồng thời là một người yêu hoa cúc, rất thích uống rượu (ở nước ta, trẻ con chỉ biết đến Đào Tiềm qua câu thơ của ông Nguyễn Khuyến trong ba bài thơ Thu có câu: Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào). Thành thử ra, mọi người yêu thơ Đào Tiềm, yêu thơ, yêu nhân cách của ông nên yêu luôn hoa cúc, và món rượu cúc là một thức quý để tưởng nhớ đến thi nhân.




Cho nên có bảo chúng ta học bên Tầu thì cũng là học cái sự trân trọng thiên nhiên trân trọng một lối sống đẹp của thi nhân mà thôi.
Còn thói uống rượu thì chẳng cần học ai, chơi với rượu, dan díu với rượu thì cũng chẳng cần học ai. Nói vậy không phải cứ giàu cứ có tiền là biết chơi cho trọn. Đến quán uống một be rượu cúc chỉ có mười nghìn, trong khi một be nhất dạ ngũ giao hay cửu xà lên tới bẩy chục nghìn. Xem ra để gieo tính thiện vào trong người thì đúng là không thể tính bằng tiền bạc được. 
Uống để trân trọng tự nhiên cũng là một cách uống, uống để mà tàn phá thiên nhiên giết hại muông thú cũng là một cách uống. Uống rượu để tạo phật tính cũng là một cách uống, uống rượu để tạo nghiệp cũng là một cách uống, kiến tính thì thành Phật, tạo nghiệp thì luân hồi. Thành phật thì thoát tục căn, còn luân hồi thì tạo quả báo. Xem ra những triết lý đơn giản đó nhiều khi lại ít người hiểu được.
Lại một mùa thu nữa sắp qua với mỗi người. Thu Hà Nội thì đẹp vô cùng, trong một căn gác nhỏ, dăm ba người bạn ngồi với nhau bên một be rượu cúc, đánh một tiếng tờ ngâm lên bài Cảm thu, tiễn thu của cụ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu:
Từ vào thu đến nay
Gió thu hiu hắt sương thu lạnh
Giăng thu bạch
Khói thu xây thành
...
Ngoài hồ Tây chuông chùa Trấn quốc đã điểm khóa kinh sớm...


Theo Internet.
______________________________________
Tài liệu tham khảo:
- Tác dụng của phấn hoa
- Món ngon quê nhà
- Phấn hoa dưới góc nhìn thầy thuốc 
- Phấn hoa chữa bệnh

Thursday, December 22, 2011

Chuyện lạ cây cối: Cây lim khổng lồ… tự nguyện “hiến xác” để trùng tu di tích Vua Lê


(Comaihoa): Ở khu di tích Lam Kinh (Thanh Hoá) còn nhiều chuyện lạ có thật mang sắc màu huyền bí. Cùng với câu chuyện về cây ổi biết “vui đùa” với quan khách, cây lim khổng lồ biết “tự nguyện hiến xác” để trùng tu di tích là một câu chuyện khá ly kỳ...
Comaihoa xin giới thiệu bài viết đăng trên VTC. (tiêu đề bài viết do chúng tôi đặt lại)

Quái dị chuyện cây lim khổng lồ 600 tuổi... tự tử!
Hướng dẫn viên giới thiệu về cây đa và cây thị chung gốc. 
Cây đa và thị cổ chung một gốc

Cô hướng dẫn viên du lịch Lê Thị Lan thướt tha tà áo dài, tự hào giới thiệu mãi với du khách về một cây cổ thụ có tên nôm na là cây Đa Thị, nằm ngay phía Tây Nam sân rồng của di tích Lam Kinh. 

Cây đa này cao chừng 50m, cành gốc xum xuê, phủ bóng rợp một góc sân. Cứ theo lời Lan, cây Đa Thị đặc biệt ở chỗ gốc đa ôm lấy gốc thị. Tuy là hai cây cho hai loại quả nhưng chỉ có chung một gốc, cùng bạc phếch màu như đã lẫn thân vào thành một khối. 


Những năm trước đây, cây thị vẫn cho nhiều quả, tuy nhỏ và có vị chát nhưng rất thơm. Căn cứ theo những biến cố thăng trầm của Lam Kinh, cây đa được ước tính chừng 300 tuổi.



Cây thị được cho là có trước, già hơn cây đa, đã chết năm 2007, chỉ còn lại thân gỗ khô. Người xưa cho rằng, chim chóc thường về đậu trên cây thị, có mang theo quả đa về ăn nên rơi hạt mà mọc lên cây đa. Đa lớn nhanh, ôm lấy gốc thị. 

Theo lời những người gắn bó lâu năm với khu di tích, chuyện hai thân cây ôm lấy nhau rồi hóa thành một không hiếm ở Lam Kinh. Ở vùng đất cổ kính này, còn có nhiều gốc cây là đa, si ôm chặt lấy một thân cây cổ thụ nào đó trong các khu rừng cổ, tương tự như cây Đa Thị nổi tiếng kia.    

Sét sợ cây sui

Cây cổ thụ được cho là cổ kính nhất, đặc biệt nhất và cao lớn nhất ở Lam Kinh chính là một cây sui ở trung tâm di tích, ngay phía sau tòa Thái miếu. 

Người xưa, nhất là đồng bào vùng cao coi trọng cây sui vì vỏ cây bóc ra làm chăn giữ ấm mùa đông (“Thương nhau chia củ sắn lùi/ Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng”– Tố Hữu). 

Quái dị chuyện cây lim khổng lồ 600 tuổi... tự tử!
Cây sui khổng lồ trong Khu Di tích Lam Kinh. 

Theo ông Trịnh Đình Dương, trong cuốn Đại Việt sử kí toàn thư có chép nhiều chuyện sét đánh ở Lam Kinh, cháy nhà, cháy cây. Chuyện sét đánh khá bình thường đối với những vùng đất được coi là hội tụ linh khí như vẫn gặp ở đàn Tế giao của vương triều nhà Hồ ở huyện Vĩnh Lộc (Thanh Hóa) hay chính ngôi thành thành đá kỳ vĩ. 

Ông Dương cho biết thêm: “Hiện nay sét vẫn thường đánh ầm ầm ở Khu Di tích Lam Kinh, nhiều khi làm hỏng cả thiết bị máy móc của Ban Quản lý. Có những chiếc máy tính mới mua, được vài hôm sét đã làm cháy khét lẹt, vác đi sửa không ăn thua, phải bỏ. 

Cứ nghe tiếng “đùng, đoàng” khủng khiếp là y như rằng có những cây cối xanh tươi trong Khu Di tích bị đánh chết cháy giữa ngày không mưa. Mỗi năm kiểu gì cũng có dăm ba cây bị sét đánh chết khô.
Nhưng cây sui cao lớn nhất vùng, dễ phải hơn 60m, tuổi đời có lẽ chừng 600- 700 tuổi, lại không hề bị sét đánh bao giờ, dù ở đây mỗi năm có vài ba cây xung quanh nó, dù thấp hơn nhiều, vẫn bị sét đánh chết”. 

Quái dị chuyện cây lim khổng lồ 600 tuổi... tự tử!
Dù cây sui rất cao lớn, nhưng hàng trăm năm nay sét chỉ đánh vào những cây nhỏ xung quanh. 

Mọi người dự đoán, cây sui như một cột thu lôi hút linh khí vần vũ giao hòa của trời đất truyền vào lòng đất được người xưa lựa chọn đặc biệt kỳ công về phong thủy này chăng?  

Lại có ý kiến cho rằng: Cây sui được trồng để đánh dấu một vị trí đặc biệt quan trọng của khu tông miếu nhà Hậu Lê, rất có thể là ngôi mộ thực an táng Bình Định Vương Lê Lợi. 

Cây lim 600 năm tuổi “tự thoát xác” 

Nhưng sự ngạc nhiên gần đây nhất thuộc về một cây vừa được lãnh đạo tỉnh Thanh Hóa quyết định hạ trong dịp giỗ Lê Lợi tháng 8 âm lịch vừa qua. 

Đó là cây lim cổ thụ, khoảng 600 tuổi, cao nhất nhì rừng Lam Kinh, được người dân địa phương gọi là cây Lim Cò, do trước đây cò thường về đậu trắng trên ngọn cây. 

Quái dị chuyện cây lim khổng lồ 600 tuổi... tự tử!
Cây ổi "cười" vẫn ra hoa, đậu quả như thường. 

Cô hướng dẫn viên du lịch Lê Thị Lan hồ hởi giới thiệu: “Trong ngày 21 và 22- 8 âm lịch vừa qua, nhân dịp giỗ Bình Định Vương Lê Lợi, tỉnh Thanh Hóa đã làm lễ “phạt mộc”, hạ một cây lim khoảng 600 năm tuổi để khởi công phỏng dựng Chính điện. 

Điều kỳ lạ hay trùng hợp thì chưa rõ, nhưng cây lim cổ thụ vốn đang sống tươi tốt trong khuôn viên di tích, gần đây bỗng trút lá một lần, rồi khô đi mà chết, như một sự tự nguyện hiến thân cho công việc này”. 

Mấy năm trước, thân cây còn tráng kiện, lá cây xanh mướt mát, tưởng như bất tử, nhưng từ mùa xuân năm ngoái, bỗng ào ào rụng lá đến khi không còn một chiếc nào. Cây khô lá, khô cành chừng dăm bảy tháng sau thì chết. 

Quái dị chuyện cây lim khổng lồ 600 tuổi... tự tử!
Mỗi khi ổi chín, bà Nghĩa lại hái để thắp hương trên ban thờ vua Lê. 

Ông Trịnh Đình Dương cho biết thêm: “Điều trùng hợp là thời điểm cây Lim Cò trút lá trùng với thời điểm dự án phục hồi phỏng dựng Chính điện Lam Kinh được phê duyệt, và khi cây chết là lúc thiết kế thi công vừa hoàn thành. 

Ngoài ra còn có hai điều trùng hợp nữa. 

Thứ nhất, thường thì các cây lim cổ thụ thường bị tiêu tâm (rỗng ruột), nhưng riêng cây lim này thì không, rất thuận lợi để làm trụ cột các tòa nhà lớn như công trình phỏng dựng Chính điện với quy mô 9 tòa nhà gỗ lim đồ sộ nhất Việt Nam. 

Quái dị chuyện cây lim khổng lồ 600 tuổi... tự tử!
Gốc cây lim vừa khít với tiết diện tảng kê chân cột này. 

Thứ hai, sau khi làm lễ “phạt mộc”, rồi tiến hành gọt bỏ phần vỏ cây, pha được 4 khúc gỗ lớn thì riêng phần thân cây đủ làm một cột cái, một cột quân, hai nhánh cây đủ làm một cột con và một thượng lương.
Đường kính phần gốc cây lim gần như trùng khớp với gương tảng cột cái (xấp xỉ 0,8m), phần ngọn khoảng 0,65 cm, vừa với gương tảng cột quân”. 

Tất nhiên, việc phỏng dựng Chính điện cần rất nhiều gỗ lim, phải nhập ngoại, chứ không phải chỉ rừng lim xanh cổ thụ ở Lam Kinh có thể cung cấp đủ. 

Nhưng sự trùng hợp ngẫu nhiên này khiến người dân địa phương vốn đã thấy rất nhiều chuyện lạ trong khu vực linh thiêng này cho rằng, dường như cây Lim Cò từ 600 năm trước được sinh ra là để phục vụ cho việc phỏng dựng Chính điện này.   

Quái dị chuyện cây lim khổng lồ 600 tuổi... tự tử!
Tam quan Chính điện Lam Kinh được phục dựng theo nguyên mẫu với những cây lim cổ thụ. 

Trên tấm bia Vĩnh Lăng đẹp nhất nhì Việt Nam được làm bằng đá trầm tích nguyên khối còn đặt tại Lam Kinh do quan Vinh Lộc đại phu Nhập nội hành khiển Tri tam quản sự Nguyễn Trãi phụng soạn, có đoạn chép về cụ tổ Lê Hối của Thái tổ Lê Lợi: 

“… Một ngày kia đi chơi Lam Sơn, thấy có đàn chim bay lượn ở dưới núi Lam như vẻ đông người tụ họp, cho rằng chỗ này là đất tốt liền dời nhà đến đây, được ba năm thành sản nghiệp, con cháu ngày một đông, tôi tớ ngày một nhiều, việc dựng nước mở đất thực gây nền từ đấy”. 

Lam Kinh hiện nay có 97ha rừng trên tổng diện tích 200ha, với rất nhiều rừng cổ, cây cổ thụ, chim chóc, rắn, thú, mỗi năm đón hàng trăm ngàn du khách về khói nhang, vãn cảnh. 

Rắn hiện ở Lam Kinh có rất nhiều, đủ loại lớn nhỏ khác nhau. Những ngày đẹp trời, rắn thường bò ra thảnh thơi phơi nắng khắp sân Chính điện, nhưng tuyệt nhiên chưa cắn ai bao giờ.

Những chuyện kỳ lạ chúng tôi lượm lặt về cây xung quanh khu tông miếu Lam Kinh, để thấy, không phải người dân muốn tô vẽ chuyện hoang đường, mà như sự kính ngưỡng với người xưa và chốn thâm nghiêm mà gần gũi của một vương triều hiển hách trong lịch sử nước Nam.

Gia Linh - VTC